Xu thế chọn ngành của thí sinh

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trương Thị Kim Tuyền (trang riêng)
Ngày gửi: 20h:39' 02-03-2013
Dung lượng: 53.4 KB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Trương Thị Kim Tuyền (trang riêng)
Ngày gửi: 20h:39' 02-03-2013
Dung lượng: 53.4 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Xu thế chọn ngành của thí sinh
24-02-2012 09:22:50
Năm 2011, cả nước có gần 300 ngành học được tổ chức tuyển sinh tại 475 cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, với khoảng 5027 ngành (53% trình độ đại học và 47% trình độ cao đẳng). So với các năm trước, thí sinh có nhiều cơ hội lựa chọn ngành học hơn, xu thế chọn ngành học có thay đổi nhưng nhìn chung, nhóm ngành kinh doanh luôn được thí sinh ưa chuộng nhất.
Thay đổi trong chọn ngành (bảng 1)
Mặc dù nhóm ngành Kinh doanh có tỉ lệ thí sinh dự thi năm 2011 (10,98%) giảm so với năm 2010 (12,4%), nhưng kết quả tuyển sinh 3 năm gần nhất cho thấy đây vẫn là nhóm ngành chiếm thứ hạng cao nhất trong sự lựa chọn của thí sinh. Đáng lưu ý trong tốp “đầu bảng”, một số nhóm ngành “kén” thí sinh cũng có dấu hiệu thu hút thí sinh,như nhóm ngành Y học, lượng thí sinh dự thi vào nhóm ngành này tăng 1,2 lần so với năm 2010, từ vị trí 10 lên vị trí 7; nhóm ngành Chế biến lương thực, thực phẩm và đồ uống tăng 1,6 lần so với năm 2010, từ vị trí 17 lên vị trí 8 trong nhóm những ngành được thí sinh lựa chọn nhiều nhất.
Xu thế chọn ngành dự thi cũng cho thấy thí sinh thường né các ngành có số lượng thí sinh ĐKDT năm trước cao, dẫn đến sự tăng – giảm theo quy luật ở đại đa số các nhóm ngành, ngoại trừ các nhóm ngành sau có số thí sinh ĐKDT tăng dần từ năm 2010 đến 2011: Kế toán – Kiểm toán (8,4%-9,0%); Luật (2,8%-3,0%); Công nghệ kỹ thuật cơ khí (1,8%-2,6%), Kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông (1,7%-1,9%) và Dịch vụ y tế (1,6%-1,8%). Trong đó, nhóm ngành Công nghệ kỹ thuật cơ khí tăng gấp 1,5 lần so với năm 2009. Ngược lại, số lượng thí sinh dự thi vào nhóm ngành Công nghệ thông tin giảm với tỉ lệ hơn 1/3 so với tuyển sinh 2009, từ vị trí 7 xuống vị trí 13.
Mặc dù nằm trong top 5 ngành học được thí sinh lựa chọn nhiều nhất, nhưng ngành quản trị kinh doanh, ngành công nghệ thông tin có xu hướng giảm từ năm 2009 đến 2011.
Điều này cho thấy tác động tích cực của công tác hướng nghiệp, công tác dự báo nhu cầu nguồn nhân lực đến xu thế chọn ngành của người học.
Hình. Xu thế chọn nhóm ngành
Hình. Tỉ lệ thí sinh dự thi của top 5 ngành học
“Lượng” và “Chất”
Tương tự như các năm trước, dù có thay đổi ít nhiều về số lượng, những ngành có đông thí sinh dự thi thường có điểm trung bình không thật sự cao. Thực tế tuyển sinh cho thấy các ngành quản trị kinh doanh, kế toán, công nghệ thực phẩm, công nghệ thông tin, khoa học môi trường, điều dưỡng, giáo dục tiểu học thuộc top 20 ngành thu hút nhiều thí sinh nhất trong hơn 290 ngành học có tổ chức tuyển sinh. Thế nhưng điểm trung bình của thí sinh các ngành này chỉ từ 8-10 điểm. So sánh với các nhóm ngành khác, điểm trung bình của thí sinh dự thi những ngành được coi là “thời thượng” này thường chỉ ở tốp giữa.
Vì thế, số thí sinh đạt điểm trên sàn của những nhóm ngành này cũng không nhiều. Các ngành như công nghệ thông tin, quản trị kinh doanh, kế toán, công nghệ thông tin, khoa học môi trường, điều dưỡng, giáo dục tiểu học chỉ có 18,3-30,9% thí sinh dự thi đạt từ điểm sàn trở lên, nằm trong tốp giữa nếu so sánh với các nhóm ngành khác. Riêng nhóm ngành đào tạo giáo viên dù chiếm đến 10,5% thí sinh dự thi và xếp thứ hai trong những ngành có đông thí sinh dự thi nhất nhưng lại có số thí sinh đạt từ điểm sàn trở lên xếp thứ 213.
Nhu cầu nhân lực lớn (bảng 3)
Chiến lược nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 đặt ra các chỉ tiêu chủ yếu về nhân lực có trình độ cao trong các lĩnh vực đột phá chủ yếu bao gồm: Quản lý nhà nước, hoạch định chính sách và luật quốc tế; Giảng viên đại học, cao đẳng; Khoa học - công nghệ; Y tế, chăm sóc sức khỏe; Tài chính - ngân hàng; Công nghệ thông tin.
Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, phấn đấu tăng nhanh tỷ lệ nhân lực qua đào tạo trong nền kinh tế dưới các hình thức, trình độ khác nhau từ mức 40,0% năm
24-02-2012 09:22:50
Năm 2011, cả nước có gần 300 ngành học được tổ chức tuyển sinh tại 475 cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, với khoảng 5027 ngành (53% trình độ đại học và 47% trình độ cao đẳng). So với các năm trước, thí sinh có nhiều cơ hội lựa chọn ngành học hơn, xu thế chọn ngành học có thay đổi nhưng nhìn chung, nhóm ngành kinh doanh luôn được thí sinh ưa chuộng nhất.
Thay đổi trong chọn ngành (bảng 1)
Mặc dù nhóm ngành Kinh doanh có tỉ lệ thí sinh dự thi năm 2011 (10,98%) giảm so với năm 2010 (12,4%), nhưng kết quả tuyển sinh 3 năm gần nhất cho thấy đây vẫn là nhóm ngành chiếm thứ hạng cao nhất trong sự lựa chọn của thí sinh. Đáng lưu ý trong tốp “đầu bảng”, một số nhóm ngành “kén” thí sinh cũng có dấu hiệu thu hút thí sinh,như nhóm ngành Y học, lượng thí sinh dự thi vào nhóm ngành này tăng 1,2 lần so với năm 2010, từ vị trí 10 lên vị trí 7; nhóm ngành Chế biến lương thực, thực phẩm và đồ uống tăng 1,6 lần so với năm 2010, từ vị trí 17 lên vị trí 8 trong nhóm những ngành được thí sinh lựa chọn nhiều nhất.
Xu thế chọn ngành dự thi cũng cho thấy thí sinh thường né các ngành có số lượng thí sinh ĐKDT năm trước cao, dẫn đến sự tăng – giảm theo quy luật ở đại đa số các nhóm ngành, ngoại trừ các nhóm ngành sau có số thí sinh ĐKDT tăng dần từ năm 2010 đến 2011: Kế toán – Kiểm toán (8,4%-9,0%); Luật (2,8%-3,0%); Công nghệ kỹ thuật cơ khí (1,8%-2,6%), Kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông (1,7%-1,9%) và Dịch vụ y tế (1,6%-1,8%). Trong đó, nhóm ngành Công nghệ kỹ thuật cơ khí tăng gấp 1,5 lần so với năm 2009. Ngược lại, số lượng thí sinh dự thi vào nhóm ngành Công nghệ thông tin giảm với tỉ lệ hơn 1/3 so với tuyển sinh 2009, từ vị trí 7 xuống vị trí 13.
Mặc dù nằm trong top 5 ngành học được thí sinh lựa chọn nhiều nhất, nhưng ngành quản trị kinh doanh, ngành công nghệ thông tin có xu hướng giảm từ năm 2009 đến 2011.
Điều này cho thấy tác động tích cực của công tác hướng nghiệp, công tác dự báo nhu cầu nguồn nhân lực đến xu thế chọn ngành của người học.
Hình. Xu thế chọn nhóm ngành
Hình. Tỉ lệ thí sinh dự thi của top 5 ngành học
“Lượng” và “Chất”
Tương tự như các năm trước, dù có thay đổi ít nhiều về số lượng, những ngành có đông thí sinh dự thi thường có điểm trung bình không thật sự cao. Thực tế tuyển sinh cho thấy các ngành quản trị kinh doanh, kế toán, công nghệ thực phẩm, công nghệ thông tin, khoa học môi trường, điều dưỡng, giáo dục tiểu học thuộc top 20 ngành thu hút nhiều thí sinh nhất trong hơn 290 ngành học có tổ chức tuyển sinh. Thế nhưng điểm trung bình của thí sinh các ngành này chỉ từ 8-10 điểm. So sánh với các nhóm ngành khác, điểm trung bình của thí sinh dự thi những ngành được coi là “thời thượng” này thường chỉ ở tốp giữa.
Vì thế, số thí sinh đạt điểm trên sàn của những nhóm ngành này cũng không nhiều. Các ngành như công nghệ thông tin, quản trị kinh doanh, kế toán, công nghệ thông tin, khoa học môi trường, điều dưỡng, giáo dục tiểu học chỉ có 18,3-30,9% thí sinh dự thi đạt từ điểm sàn trở lên, nằm trong tốp giữa nếu so sánh với các nhóm ngành khác. Riêng nhóm ngành đào tạo giáo viên dù chiếm đến 10,5% thí sinh dự thi và xếp thứ hai trong những ngành có đông thí sinh dự thi nhất nhưng lại có số thí sinh đạt từ điểm sàn trở lên xếp thứ 213.
Nhu cầu nhân lực lớn (bảng 3)
Chiến lược nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 đặt ra các chỉ tiêu chủ yếu về nhân lực có trình độ cao trong các lĩnh vực đột phá chủ yếu bao gồm: Quản lý nhà nước, hoạch định chính sách và luật quốc tế; Giảng viên đại học, cao đẳng; Khoa học - công nghệ; Y tế, chăm sóc sức khỏe; Tài chính - ngân hàng; Công nghệ thông tin.
Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, phấn đấu tăng nhanh tỷ lệ nhân lực qua đào tạo trong nền kinh tế dưới các hình thức, trình độ khác nhau từ mức 40,0% năm
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓







Các ý kiến mới nhất